Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động công đoàn, vì quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, vì sự phát triển bền vững của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Danh mục
Văn bản pháp luật
Luật Công Đoàn
Luật Lao Động
Luật Dân Sự
Các bộ Luật khác
Weblink
Audio Congdoanca
Quảng cáo
thể lệ hội thi sáng tạo kỹ thuật tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu năm 2014 - 2015
Thể lệ Giải báo chí "Vì sự nghiệp Đại đoàn kết toàn dân tộc" lần thứ 11,
Ngày thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông
cuộc thi viết về chủ đề " An toàn giao thông" trên trang điện tử của Đài PTTH
Tác Hại của thuốc lá
Nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường
Thuốc lá hại phổi
" Hãy để sức khỏe khơi dậy cảm xúc ' thăng hoa', không cần ma túy"
Thống kê truy cập
3.658.829
 
Công đoàn là tổ chức đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho người lao động
(22-11-2011)

Nhân dịp Quốc hội thảo luận Dự thảo Bộ Luật Lao động (sửa đổi) và Luật Công đoàn (sửa đổi), Ban Biên tập Website Liên đoàn Lao động tỉnh BR-VT đăng lại bài của Báo Lao động phỏng vấn đồng chí Đặng Ngọc Tùng, Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về các dự thảo trên.

Công đoàn là tổ chức đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho người lao động

   

Công đoàn là tổ chức đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho người lao động

 

          Nhân dịp Quốc hội thảo luận Dự thảo Bộ Luật (sửa đổi) và Luật Công đoàn (sửa đổi), Ban Biên tập Website Liên đoàn Lao động tỉnh BR-VT đăng lại bài của Báo Lao động phỏng vấn đồng chí Đặng Ngọc Tùng, Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về các dự thảo trên.

 

          Câu 1. Thưa đồng chí, có quan điểm cho rằng “Công đoàn không có chức năng đại diện cho người lao động một cách độc lập, xin Đồng chí cho biết quan điểm của mình về vấn đề này?

           Đồng chí Đặng Ngọc Tùng: Từ trước tới nay, các văn bản của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/01/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X), Kết luận số 09-KL/TW ngày 16/9/2011 của Bộ Chính trị, Bộ Luật Lao động hiện hành, Luật Công đoàn hiện hành và các văn bản pháp luật khác đều quy định Công đoàn có chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho người lao động. Có thể nói, từ khi thành lập đến nay, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động đã trở thành chức năng “bẩm sinh” của tổ chức Công đoàn. Trong thực tế, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các cấp Công đoàn đã và đang thực hiện có kết quả rất thiết thực chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho công nhân, viên chức, lao động.

Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân - giai cấp lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam. Công đoàn không chỉ là tổ chức có chức năng đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người lao động, mà còn phải đồng thời cùng với cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, đóng góp vào quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì vậy cần phải kiên định quan điểm của Đảng và lập trường của giai cấp công nhân, kế thừa khái niệm công đoàn hiện hành và khẳng định Công đoàn là tổ chức đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho người lao động. Chính vì vậy, khẳng định Công đoàn có chức năng quan trọng là đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, công chức, viên chức và người lao động  vừa có cơ sở lý luận, lịch sử và thực tiễn cần phải tiếp tục quy định tại Luật Công đoàn (sửa đổi).

      

          Câu 2.  Người lao động nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam có được gia nhập Công đoàn Việt Nam?

Đồng chí Đặng Ngọc Tùng:  Đây là vấn đề mới, khi đất nước ta đang mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài, theo đó có hàng chục ngàn người là chuyên gia, lao động kỹ thuật và lao động phổ thông đang làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hoặc đang làm việc tại các doanh nghiệp của Việt Nam. Trong thực tế quan hệ lao động giữa người lao động là người nước ngoài với người sử dụng lao động cũng bắt đầu có những phát sinh mâu thuẫn, nhưng chưa có tổ chức Công đoàn để bảo vệ họ. Vì vậy, vấn đề kết nạp người lao động là người nước ngoài vào tổ chức Công đoàn Việt Nam cũng cần được xem xét.

Trong quá trình chuẩn bị Đại hội X Công đoàn Việt Nam, khi thảo luận dự thảo Điều lệ Công đoàn Việt Nam, có một số ý kiến đề nghị cần phải kết nạp người lao động là người nước ngoài vào Công đoàn Việt Nam. Nghị quyết Đại hội tạm thời chưa xem xét việc kết nạp người lao động là người nước ngoài vào tổ chức Công đoàn Việt Nam .

Tuy nhiên, trong quá trình thảo luận lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Công đoàn (sửa đổi), cũng có nhiều ý kiến đề nghị: “Người lao động là người nước ngoài đang làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hoặc đang làm việc tại các doanh nghiệp của Việt Nam, có thời hạn hợp đồng lao động từ một năm trở lên, có giấy phép lao động của cơ quan thẩm quyền, tự nguyện và thừa nhận Điều lệ Công đoàn Việt Nam thì trong thời gian làm việc tại Việt Nam có quyền gia nhập Công đoàn Việt Nam; khi không còn làm việc ở Việt Nam thì thôi tham gia Công đoàn Việt Nam”.

 

          Câu 3. Ở Việt Nam đa số là doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhiều nhất là các doanh nghiệp có tính gia đình. Vậy, theo Đồng chí, doanh nghiệp có bao nhiêu lao động thì phải thành lập Công đoàn cơ sở?

Đồng chí Đặng Ngọc Tùng: Hiện nay, ở Việt Nam trên 90% số doanh nghiệp được thành lập theo Luật doanh nghiệp là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó số doanh nghiệp có dưới 20 lao động chiếm trên 80% tổng số doanh nghiệp. Vì vậy, việc thành lập tổ chức Công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước gặp rất nhiều khó khăn do phần lớn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Người sử dụng lao động cũng chưa tạo điều kiện để tổ chức Công đoàn vận động người lao động thành lập, gia nhập và hoạt động Công đoàn. Trong những năm qua, các cấp Công đoàn đã có nhiều nỗ lực cố gắng tập trung cho việc phát triển đoàn viên và thành lập Công đoàn cơ sở, nhưng cũng mới chỉ thành lập tổ chức Công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước đạt tỷ lệ 51,39% ở các doanh nghiệp có từ 20 lao động trở lên và đang phấn đấu đến cuối năm 2011 có 100% số doanh nghiệp có từ 50 lao động trở lên có tổ chức Công đoàn cơ sở.

Để có cơ sở pháp lý tạo điều kiện cho tổ chức Công đoàn thành lập Công đoàn cơ sở; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đưa vào dự thảo Luật Công đoàn (sửa đổi) Điều 6 quy định: Chậm nhất 6 tháng kể từ ngày Luật này có hiệu lực hoặc kể từ ngày cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp đi vào hoạt động thì cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp có từ 20 lao động trở lên phải thành lập công đoàn để đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.

    

          Câu 4.  Trong dự thảo Luật, hệ thống tổ chức Công đoàn có bao nhiêu cấp cơ bản và tên gọi của từng cấp có gì thay đổi so với hiện tại?

Đồng chí Đặng Ngọc Tùng: Trong dự thảo Luật (Điều 8) quy định: Công đoàn Việt Nam là tổ chức thống nhất, có 4 cấp cơ bản như sau:

1. Cấp cơ sở: Công đoàn cơ sở, Nghiệp đoàn.

2. Cấp trên trực tiếp cơ sở: Liên đoàn Lao động huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Công đoàn ngành địa phương; Công đoàn cấp tương đương (Công đoàn các khu công nghiệp, Công đoàn khu công nghiệp, Công đoàn khu kinh tế, Công đoàn khu công nghệ cao, Công đoàn Tổng công ty...).

3. Cấp tỉnh: Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Công đoàn ngành Trung ương; Công đoàn cấp tương đương;

4. Trung ương: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam;

 Qua thảo luận, có nhiều ý kiến đồng tình với 4 cấp cơ bản như trên, nhưng họ đề nghị là nên thống nhất tên gọi của các cấp là “Công đoàn chứ không nên nơi thì gọi “Liên đoàn Lao động, nơi thì gọi là “Công đoàn và đề nghị thống nhất 4 cấp cơ bản như sau:

1. Cấp cơ sở: Công đoàn cơ sở, Nghiệp đoàn.

2. Cấp trên trực tiếp cơ sở: Công đoàn quận, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Công đoàn ngành địa phương; Công đoàn cấp tương đương.

3. Cấp tỉnh: Công đoàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Công đoàn ngành Trung ương; Công đoàn cấp tương đương;

4. Trung ương: Tổng Công đoàn Việt Nam;

           

Câu 5. Tại sao trong dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) là doanh nghiệp có từ 300 lao động trở lên thì có cán bộ công đoàn chuyên trách, còn dự thảo Luật Công đoàn (sửa đổi) thì quy định là doanh nghiệp có từ 500 lao động trở lên mới có cán bộ công đoàn chuyên trách?

Đồng chí Đặng Ngọc Tùng: Việc bố trí cán bộ Công đoàn chuyên trách ở doanh nghiệp là cần thiết, sẽ tạo điều kiện cho Công đoàn cơ sở hoạt động có hiệu quả hơn, nhất là ở các doanh nghiệp lớn, có đông lao động, nhưng vấn đề đặt ra là doanh nghiệp có bao nhiêu lao động thì mới có thể bố trí cán bộ Công đoàn chuyên trách cho phù hợp thì phải căn cứ vào nhiều yếu tố.

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hoan nghênh Ban soạn thảo Bộ Luật Lao động (sửa đổi) đã đưa quy định ở các doanh nghiệp có từ 300 lao động trở lên cần bố trí cán bộ Công đoàn chuyên trách. Nhưng sau khi cân nhắc, tính toán với điều kiện thực tế, thì nguồn kinh phí của tổ chức Công đoàn (nếu thu đủ như quy định tại Điều 26) chi phục vụ cho phong trào công nhân và hoạt động công đoàn là chính, chỉ còn một phần rất hạn chế để chi trả lương cho cán bộ Công đoàn chuyên trách. Theo tính toán của tổ chức Công đoàn, doanh nghiệp có từ 500 lao động trở lên thì nguồn thu mới có thể bảo đảm chi cho các hoạt động của tổ chức Công đoàn và chi trả cho một suất lương Công đoàn chuyên trách.   

       

          Câu 6. Thưa Đồng chí, việc thu kinh phí công đoàn 2% và các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trích nộp có từ bao giờ? và trong dự thảo Luật Công đoàn (sửa đổi) có đưa vào Luật không? 

Đồng chí Đặng Ngọc Tùng: Nguồn thu kinh phí Công đoàn gắn với nghĩa vụ đóng góp của doanh nghiệp đã được pháp luật quy định mang tính lịch sử từ Sắc lệnh số 108 – SL ngày 5/11/1957 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Luật Công đoàn đã quy định rõ tại Khoản c, Điều 21: “Tiền trích hàng tháng trong quỹ của xí nghiệp Nhà nước, cơ quan, trường học chủ xí nghiệp tư bản tư doanh dành cho Công đoàn  bằng một tỷ lệ nhất định của tổng số lương cấp phát cho toàn thể công nhân, viên chức“ và được cụ thể hoá vào Nghị định số 118-TTg ngày 09/4/1958 do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ban hành. Trong đó, Điều 19 quy định: “Để góp phần vào quỹ công đoàn, giám đốc xí nghiệp nhà nước, thủ trưởng cơ quan, trường học, chủ xí nghiệp tư bản tư doanh, hiệu trưởng trường tư thục, hàng tháng nộp vào quỹ công đoàn thuộc tài khoản của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ở Ngân hàng Quốc gia Việt Nam một số tiền gọi là kinh phí công đoàn bằng hai phần trăm (2%) tổng số tiền lương cấp phát trong tháng cho toàn thể công nhân, viên chức, không phân biệt trong hay ngoài biên chế;  và trên thực tế tổ chức Công đoàn thu kinh phí công đoàn 2% từ đó đến nay đã trải qua 53 năm thực hiện đang phát huy tác dụng và hiệu quả to lớn trong việc bảo đảm điều kiện cho Công đoàn tổ chức các hoạt động thực hiện chức năng đại diện, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của người lao động và thực hiện tốt nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó, đóng góp không nhỏ vào quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Nguồn kinh phí này được tính vào chi phí của doanh nghiệp, được hạch toán vào giá thành sản phẩm. Như chúng ta thấy, trong Luật Công đoàn năm 1957 cũng như Luật Công đoàn năm 1990 chỉ quy định các đơn vị, doanh nghiệp trích kinh phí công đoàn một tỷ lệ nhất định trên tổng quỹ tiền lương trả cho người lao động, chứ không nêu cụ thể tỷ lệ bao nhiêu, mà được quy định tỷ lệ hai phần trăm (2%) tổng số tiền lương cấp phát trong tháng cho toàn thể công nhân viên chức, lao động không phân biệt trong hay ngoài biên chế bằng văn bản Nghị định của Chính phủ, hiệu lực pháp lý thi hành chưa cao, nên có doanh nghiệp ngoài nhà nước tìm mọi cách không thực hiện, gây thiệt hại cho người lao động và tổ chức Công đoàn. Chính vì vậy, Ban soạn thảo đề nghị đưa kinh phí công đoàn 2% vào Luật Công đoàn (sửa đổi) (Khoản 2, Điều 26).

            

          Câu 7. Tại sao hiện tại doanh nghiệp trong nước trích nộp kinh phí công đoàn 2%, còn doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trích nộp kinh phí công đoàn 1%? sắp tới như thế nào?  

Đồng chí Đặng Ngọc Tùng: Trước khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 53/1999/QĐ-TTg, việc thu kinh phí 2% trên tổng quỹ tiền lương ở doanh nghiệp FDI và cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp của Việt Nam được thực hiện như nhau.

Trong những năm 1997, 1998 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế khu vực châu Á, tình hình đầu tư vào Việt Nam bị giảm sút. Để thu hút các doanh nghiệp FDI vào Việt Nam, ngày 26/3/1999 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 53/1999/QĐ-TTg về một số biện pháp khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó tại Khoản 3 Điều 4 quy định: “Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, không áp dụng chế độ trích nộp kinh phí công đoàn từ quỹ lương’’. Đồng thời giao cho Bộ Tài chính trích từ ngân sách nhà nước mỗi năm hơn 20 tỷ đồng để chi trả lương và phụ cấp lương cho cán bộ công đoàn ở doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.  

Sau gần 9 năm thực hiện Quyết định số 53/1999/QĐ-TTg, hoạt động công đoàn ở các doanh nghiệp FDI gặp rất nhiều khó khăn vì không có kinh phí gây thiệt hại đến quyền lợi của người lao động và hoạt động công đoàn trong khu vực này, đồng thời tạo ra sự không bình đẳng giữa các doanh nghiệp của Việt Nam và doanh nghiệp FDI. Tại buổi làm việc giữa Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam với Thủ tướng Chính phủ ngày 7/3/2007, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã đề nghị Thủ tướng Chính phủ không thực hiện Khoản 3 Điều 4 Quyết định số 53/1999/QĐ-TTg (vì quy định như thế là vi phạm Luật Công đoàn).

Trên cơ sở đề nghị đó và tham khảo ý kiến của các Bộ, ngành Trung ương, Thủ tướng Chính phủ đã nhất trí bãi bỏ Khoản 3 Điều 4 Quyết định số 53/1999/QĐ-TTg và thay bằng Quyết định số 133/2008/QĐ–TTg ngày 01/10/2008  về việc trích nộp kinh phí công đoàn đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và văn phòng điều hành của phía nước ngoài trong hợp đồng hợp tác kinh doanh (FDI). Theo đó, quy định việc trích nộp kinh phí công đoàn bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài  tại Việt Nam.

Như vậy, hiện nay việc trích kinh phí công đoàn ở các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp của Việt Nam vẫn còn khác nhau và từ đó tạo ra sự không bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam.

Để có sự thống nhất và bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, Khoản 2 Điều 26 dự thảo Luật Công đoàn (sửa đổi) quy định: “Kinh phí công đoàn do cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp đóng bằng 2% tổng quỹ lương thực trả cho người lao động”.   

 

          Câu 8. Có ý kiến cho rằng, Luật Ngân sách Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động của Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội, nên kinh phí hoạt động của tổ chức công đoàn thực hiện nhiệm vụ chi thường xuyên của ngân sách nhà nước?

 

  Đồng chí Đặng Ngọc Tùng: Đúng rồi. Chúng ta đang thực hiện nghiêm Luật Ngân sách Nhà nước đấy chứ. Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước, tại Tiết d, Khoản 2 (Chi thường xuyên), Điều 24 của Nghị định này quy định: “Hoạt động của các cơ quan địa phương của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh”. Không có quy định chi thường xuyên cho các hoạt động của Liên đoàn Lao động cấp tỉnh, Liên đoàn Lao động quận, huyện; Công đoàn ngành Trung ương, Công đoàn Tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn, Công đoàn ngành địa phương, Công đoàn các khu công nghiệp, Công đoàn giáo dục cấp huyện và công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn. Từ đó cho thấy, chi thường xuyên cho hoạt động của các cấp công đoàn không được ngân sách bảo đảm, mà chi bằng nguồn tài chính công đoàn thu được theo Luật Công đoàn, và điều đó đã tạo điều kiện cơ sở pháp lý cho tổ chức Công đoàn Việt Nam đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch bên ngoài lập luận rằng Công đoàn Việt Nam là Công đoàn của Chính phủ, chứ không phải là công đoàn của người lao động, không phù hợp với thông lệ công đoàn quốc tế.  

 Thực hiện Khoản 1, Điều 16 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP:Ngân sách nhà nước bảo đảm cân đối kinh phí hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội theo nguyên tắc ngân sách nhà nước cấp chênh lệch giữa dự toán chi được duyệt theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định và các nguồn thu của các tổ chức nêu trên theo chế độ quy định (đoàn phí, công đoàn phí, hội phí; các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật)”, ngân sách Trung ương, hàng năm, có phân bổ cho tổ chức Công đoàn Việt Nam nguồn kinh phí xây dựng cơ bản của toàn hệ thống và kinh phí để thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia.

 

          Câu 9. Chính kiến của Đảng và Chính phủ về vấn đề này như thế nào?

 

          Đồng chí Đặng Ngọc Tùng: Quan điểm của Đảng ta về thu kinh phí công đoàn rất nhất quán từ trước đến nay, đặc biệt Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/01/2008 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X “Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” ghi rõ: “Việc thu kinh phí công đoàn tại doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thực hiện theo quy định của Luật Công đoàn và của Chính phủ; sử dụng cho việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, sinh hoạt văn hoá, thi đua, khen thưởng, phúc lợi xã hội và các hoạt động khác của công nhân tại chính doanh nghiệp đó, kể cả việc trả lương hoặc phụ cấp lương cho cán bộ công đoàn tại doanh nghiệp.”                    

    

          Quan điểm của Chính phủ cũng rất rõ là cần thiết phải có kinh phí công đoàn. Tại Công văn số 189/CP-PL ngày 05/10/2011 của Chính phủ gửi Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về góp ý kiến vào Dự án Luật Công đoàn (sửa đổi), tại khoản b Điều 27 như sau: “Kinh phí công đoàn do cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp đóng tối đa bằng 2% quỹ tiền lương, tiền công tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động”.

 

0 BBT

 


Các tin khác:
Ba khâu đột phá của Công đoàn Thành phố Vũng Tàu
Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành LĐLĐ tỉnh BR-VT (Khóa IV): Tiếp tục triển khai chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 20/NQ-TW về xây dựng giai cấp công nhân
Thỏa ước lao động tập thể là công cụ góp phần xây dựng lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp
Nhìn lại 4 năm cuộc vận động
Tiếp tục đưa nghị quyết của Đảng về xây dựng giai cấp công nhân vào cuộc sống.
Đồng hành cùng người lao động
Đại hội đại biểu Công đoàn Viên chức tỉnh BR-VT khóa III
Xưởng may của tình nhân ái
Công đoàn VIETSOVPETRO 30 năm đồng hành cùng XNLD VIETSOVPETRO
Công đoàn tỉnh BR-VT với phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”
 
Tin nhanh

BCH CĐ ngành Công Thương tỉnh BR-VT: Bầu bổ sung đồng chí Nguyễn Hồng Vân làm Phó Chủ tịch CĐ ngành nhiệm kỳ 2009- 2014 BCH CĐ ngành Công Thương tỉnh BR-VT: Bầu bổ sung đồng chí Nguyễn Hồng Vân làm Phó Chủ tịch CĐ ngành nhiệm kỳ 2009- 2014


Vinh danh doanh nghiệp “Vì người lao động” lần thứ nhất năm 2014

Liên đoàn lao động tỉnh BR-VT, Hội nghị sơ kết 5 năm phong trào thi đua “giỏi việc nước, đảm việc nhà” giai đoạn 2010-2014.	Liên đoàn lao động tỉnh BR-VT, Hội nghị sơ kết 5 năm phong trào thi đua “giỏi việc nước, đảm việc nhà” giai đoạn 2010-2014.


Hội thi cắm hoa nghệ thuật và tặng quà cho nữ CNVCLĐ trong các khu công nghiệp Hội thi cắm hoa nghệ thuật và tặng quà cho nữ CNVCLĐ trong các khu công nghiệp


Công đoàn các Khu công nghiệp : Tổ chức tập huấn về xây dựng quan hệ lao động, thúc đẩy đối thoại xã hội tại doanh nghiệp, công đoàn tham gia và thực hiện quy chế dân chủ tại cơ sở. Công đoàn các Khu công nghiệp : Tổ chức tập huấn về xây dựng quan hệ lao động, thúc đẩy đối thoại xã hội tại doanh nghiệp, công đoàn tham gia và thực hiện quy chế dân chủ tại cơ sở.

Đơn vị trực thuộc
Khach san Cong Doan Vung Tau
Con Dao Sea Resort
Quy tro von
Văn bản mới
cuộc thi "Thực hiện tốt quyền lợi hợp pháp, chính đáng của NLĐ để xây dựng quan hệ LĐ hài hoà"

THỂ LỆ HỘI THI SÁNG TẠO KỸ THUẬT TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU NĂM 2014-2015

Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), 1982

Luật Biên giới Quốc gia

Luật Biển Việt Nam

Luật An ninh Quốc gia

Bộ luật Hàng hải Việt Nam
Khach san Cong Doan Vung Tau
Trường TRung cấp nghề kinh tế kỹ thuật Công Đoàn BRVT
Quy tro von
Con Dao Sea Resort
Phó Bí thư Tỉnh ủy BRVT Nguyễn Hồng Lĩnh, tặng quà cho cháu Nguyễn Ánh Chủ tịch LĐLĐ tỉnh BR-VT Lưu Tài Đoàn tặng quà cho CNLĐ đang làm việc cho Khu c
 
thiet ke web thiet ke web hcm thiet ke web vung tau thiet ke web gia vang hoa dat hoa dat son nuoc son nuoc noi that binh sua tre em san xuat moc khoa may ao thun